Chi Tiết Sản Phẩm
example4
Canxit

Canxit là khoáng vật cacbonat và là dạng bền nhất của Canxi cacbonat (CaCO3). Các dạng khác là khoáng vật aragonitevaterite. Aragonite sẽ chuyển thành calcite ở 470 C, vaterite còn kém bền hơn 

Can xít khúc xạ đúp từ Dixon, New Mexico

 

Thông tin chung

Thể loại

Khoáng vật cacbonat

Công thức hóa học

CaCO3

Tính đối xứng tinh thể

Ba phương 32/m

Màu

Không màu hoặc trắng, xám, vàng, xanh lá

Dạng thường tinh thể

Dạng tinh thể, hạt, hình ống, kết thành khối, khối lớn, hình hộp mặt thoi.

Hệ tinh thể

Hệ tinh thể ba phương mặt tam giác lệch sáu phương (32/m), Nhóm không gian (R3 2/c)

Song tinh

Phổ biến bởi bốn định luật song tinh

Cát khai

Hoàn hảo ở mặt [1011] 3 hướng với góc 74° 55'

Vết vỡ

Vỏ sò

Độ bền

Giòn

Độ cứng Mohs

3

Ánh

Ánh thủy tinh đến ánh ngọc trai ở các mặt cát khai

Màu vết vạch

Trắng

Tính trong mờ

Trong mờ đến trong suốt

Tỷ trọng riêng

2.71

Thuộc tính quang

Một trục (-)

Chiết suất

nω = 1.640 - 1.660 nε = 1.486

Khúc xạ kép

δ = 0.154 - 0.174

Độ hòa tan

Tan trong axit loãng

Các đặc điểm khác

Có thể phát quang đỏ, xanh, vàng và các màu khác dưới tia sóng ngắn, dài, tia tử ngoại; lân quang

Tính chất

Tinh thể canxit giới hạn ở hai đầu

Tinh thể canxit có dạng hình hộp thoi ba phương, mặc dù tinh thể canxit hình hộp thoi rất hiếm gặp trong tự nhiên. Tuy nhiên, chúng thể hiện tính chất đa dạng từ hình hộp thoi nhọn đến tù, dạng phẳng, lặng trụ, hoặc hình tam giác lệch. Canxit thể hiện một vài dạng song tinh bổ sung vào sự đa dạng về các dạng quan sát được. Nó có thể tồn tại ở thể sợi, hình hột, lá mỏng, hoặc khối đặc. Cát khai thường ở 3 hướng song song với dạng hình hộp thoi. Vết vỡ vỏ sò, nhưng khó để thu được. Độ cứng trên thang Mohs là 3, tỷ khối riêng là 2.71, ánh thủy tinh ở dạng tinh thể. Màu trắng hoặc không màu, mặc dù bóng có màu xám, đỏ, vàng, xanh, xanh lá, tím,, nâu, thậm chí cả đen khi khoáng vật có lẫn tạp chất.

Canxit trong mờ đến trong suốt và có thể phát quang hoặc phát lân tinh.

Tinh thể canxit đơn thể hiện tính chất quang học khúc xạ đúp. Hiện tượng này khiến cho các vật nhìn xuyên qua một miếng can xít trong sẽ khúc xạ kép. Hiện tượng này lần đầu tiên được mô tả bởi nhà khoa học Đan Mạch Rasmus Bartholin năm 1669. Ở bước sóng ~590 nm canxit có hệ số khúc xạ thường và bất thường là 1.658 và 1.486.  Giữa 190 và 1700 nm, hệ số khúc xạ thường biến thiên giữa 1.6 và 1.3, hệ số khúc xạ bất thường biến thiên giữa 1.9 và 1.5.

Canxit, giống như phần lớn các muối carbonat, sẽ bị hòa tan trong phần lớn cá loại axit. Canxit có thể bị hòa tan bởi nước ngầm hoặc lắng đọng bởi nước ngầm, phụ thuộc vào một vài nhân tố trong đó có nhiệt độ nước, độ pH, và nồng độ ion hòa tan. Mặc dù canxit khá khó tan trong nước lạnh, axit có thể làm canxit tan và giải phóng khí carbon dioxit. Can xít thể hiện đặc tính bất thường, nó trở nên ít tan hơn trong nước khi nhiệt độ tăng. Khi điều kiện phù hợp để kết tủa, canxit tạo thành lớp phủ khoáng vật mà hàn gắn các hạt đá lại hoặc có thể lấp đầy các vết nứt. Khi điều kiện phù hợp để bị hòa tan, sự rửa trôi canxit có thể tăng đột ngột tính thấm, tính rỗng của đá, và nếu nó kéo dài trong một thời gian dài có thể tạo thành các hang lớn, đáng chú ý là hang Snowy River Caver ở Lincoln County, New Mexico.

Trạng thái tồn tại tự nhiên.

Tinh thể canxit đơn lớn nhất được ghi nhất có nguồn gốc từ Iceland, kích thước 7×7×2 m và 6×6×3 m , nặng khoảng 250 tấn.

Canxit là thành phần phổ biến trong đá trầm tích, như đá vôi, phần lớn được tạo thành từ vỏ của các loài sinh vật biển đã chết. Xấp xỉ 10% đá trầm tích là đá vôi. Canxit là khoáng vật chính trong đá hoa biến chất. Nó cũng xuất hiện ở các mạch khoáng trong mỏ ở các suối nước nóng, và nó thường tồn tại trong hang đá như là thạch nhũmăng đá.

Canxit cũng có thể được thấy ở trong đá núi lửa, đá xuất xứ từ manti như carbonatite, kimberlite, có nhưng tồn tại ít ở peridotite. Lublinite là dạng sợi của Canxit.

Canxit thường là thành phần chính của vỏ các loài sinh vật biển, như sinh vật phù du (gai vôi và trùng có lỗ, phần cứng của tảo đỏ,...). Canxit được tìm thấy đặc biệt ở Snowy River Cave ở New Mexico như đã nhắc ở trên, nơi các vi sinh vật gắn bó với môi trường tự nhiên. Trilobite, một loài đã tiện chủng, có cặp mắt đặc biệt. Chúng sử dụng tinh thể Canxit trong suốt để hình thành thấu kính cho mắt của chúng.

Canxit trong lịch sử Trái Đất.

Canxit biển xuất hiện trong lịch sử Trái Đất khi mà sự kết tủa vô cơ của canxi carbonat trong nước biển có hàm lượng magie thấp, ngược lại với aragonite và các khoáng vật kết tủa hàm lượng magie cao ngày nay. Canxit biển thay thế cho aragonite biển ở Liên đại Hiển sinh, nổi bật nhất ở kỷ Ordovickỷ Jurassic.

* Sản Phẩm Cùng Loại
Sản Phẩm nổi Bật
Số Người Online: 10 Số lượt truy cập: 421876
Copyright©2013 Phong Thủy Minh Nhật
Thiết Kế Website : Nina Co, Ltd
Phòng trưng bày 0909.341.868
Tư vấn Phong thủy 0909.341.868